Bị mắc kẹt trong suy tư
tháng 9 năm 2014
Trong bài đăng ở tuần trước, tôi đã bàn về mối quan hệ giữa những khó khăn trong cảm xúc và sự lo lắng về tương lai. Tôi đã đề cập đến việc lo lắng dường như giúp ta giảm thiểu những lo âu, những điều không chắc chắn về thế giới, nhưng thực tế, việc lo lắng kéo dài một vòng tròn tai hại của chính cái nỗi lo mà lẽ ra nó phải giúp ta kiểm soát. Tuy nhiên, trong bài viết trước, tôi đã không có cơ hội để bàn về “người họ hàng” của lo lắng: suy tư (rumination). Do đó hôm nay tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn về cơ chế của suy tư.
Về cơ bản, suy tư đòi hỏi việc suy nghĩ về những khuyết điểm hoặc sai lầm một cách lặp đi lặp lại. Tuy nhiên, thay vì lo lắng tập trung về tương lai, thì suy tư lại tập trung về quá khứ. Một số câu hỏi xuất hiện trong quá trình này bao gồm:m”tại sao mình lại hành động như vậy?” và “tại sao mình lại không xử lí mọi việc tốt hơn?”
Quá trình của sự trầm tư đã nhận được sự chú ý đáng kể vào đầu những năm 90, khi mà giáo sư quá cố Susan Nolen (cũng là cố vấn tiến sĩ của tôi) bắt đầu chứng minh thông qua tài liệu rằng việc suy nghĩ lặp đi lặp lại dẫn đến những xúc cảm tiêu cực, đặc biệt là đối với những người dễ bị trầm cảm. Hơn hai thập kỉ nghiên cứu đã cho thấy rằng trầm tư gắn liền với sự phát triển và sự duy trì của những kiểu rồi loạn trầm cảm (xem Nolen-Hoeksema et al., 2008). Hơn nữa, nghiên cứu được thực hiện trong thập kỉ vừa qua cho thấy suy tư có thể là một nhân tố transdiagnostic – nghĩa là một quá trình liên quan đến một loạt những triệu chứng rối loạn tinh thần như lo âu, ăn uống, và lạm dụng chất kích thích. (xem Nolen-Hoeksema & Watkins, 2011 hoặc một trong những bài viết của tôi Aldao, Nolen-Hoeksema, & Schweizer, 2010).
Vậy nếu như trầm tư không tốt, tại sao ta cứ tiếp tục sử dụng nó? Câu trả lời rất đơn giản. Cũng giống như lo lắng, suy tư cho ta những ảo tưởng rằng nó có thể giúp ta hiểu thế giới hơn: ” Giá như mình cứ tự hỏi tại sao người mình thích có vẻ như không hứng thú với mình, có lẽ mình sẽ biết mình sai ở đâu” hay, “Nếu mình cứ lặp đi lặp lại nỗi thất vọng về việc mình làm, thì mình sẽ nhận ra tại sao mình lại lộn xộn như thế” Tự hỏi những câu như vậy chẳng khác nào nhảy vào cái hố tiêu cực. Cũng đơn giản như cách mà chúng được thể hiện, những câu hỏi này khao khát một câu trả lời tiêu cực. Làm sao có thể trả lời câu “Mình sai ở đâu nhỉ?” một cách tích cực được chứ? Không thể. Hơn thế nữa, một câu trả lời tiêu cực dường như không bao giờ là đủ. “Không thể chỉ có vậy, chắc hẳn phải có nhiều cái sai khác nữa.” Vậy nên ta cứ tiếp tục suy tư.
Sự thật là chúng ta có rất nhiều khuyết điểm, ai cũng thế cả. Việc chỉ trích lỗi lầm của ta có thể là rất hữu ích và hiệu quả. Thế nhưng khi ta trở nên gắn bó với việc tìm kiếm mọi lỗi lầm của mình, chúng ta lại tự dồn mình vào đường cùng và trở nên thụ động hơn. Thực tế, những nghiên cứu chuyên sâu vào sự suy tư đã chỉ ra rằng: ta càng suy tư nhiều, thì ta càng khó có thể bước tiếp và thay đổi những gì mình không vừa ý về bản thân cũng như thế giới (xem nghiên cứu của Ed Watkins đại học Exeter ở UK và Jutta Joormann ở đại học Yale).
Do đó, khi bạn thấy mình đang chìm đắm trong những câu hỏi đầy trầm tư, hãy cố lùi về sau một bước và tự hỏi mình: “Liệu đây có phải là những suy nghĩ giúp thúc đẩy hành động hay chỉ là những suy tư làm mình cảm thấy tệ hơn và không tin vàó những thay đổi mà mình có thể mang lại?”
Tôi biết là thật khó để làm được điều đó bởi vì suy tư làm ta mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn tai hại, với những ý nghĩ tiêu cực mà làm cho ta khó có thể lùi về sau đủ để đưa ra những nghi vấn. Thế nhưng nếu ta càng luyện tập nhiều, thì ta càng có kinh nghiệm trong việc loại bỏ những trầm tư. Tất cả đều bắt đầu từ việc nhận thức được nó.
Ngọc Dung dịch
Nguồn: http://www.psychologytoday.com/blog/sweet-emotion/201407/getting-stuck-in-ruminative-thought